Xử phạt hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội

Bài viết Xử phạt hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội được Luật Gia Bùi tổng hợp và điều chỉnh chính xác thông tin và đăng tải lại trên website. Nếu bạn có bất cứ nhu cầu cần tư vấn về Luật, hãy liên hệ với dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi.

Hiện nay, tỷ lệ sử dụng mạng xã hội như facebook, zalo, tiktok ngày càng phổ biến với nhiều lứa tuổi khác nhau không phân biệt già, trẻ… Việc sử dụng mạng xã hội giúp mọi người có thể kết nối với bạn bè, người thân, nắm bắt tin tức, cuộc sống của mọi người xung quanh. Tuy nhiên, cùng với tiện ích khi sử dụng mạng xã hội thì không ít đối tượng lợi dụng, sử dụng mạng xã hội để đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội gây ra hậu quả khôn lường. Vậy, pháp luật quy định Xử phạt hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội như thế nào? 

Cơ sở pháp lý: 

– Bộ luật Dân sự năm 2015;

– Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2021); 

– Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

– Nghị định 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử;

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 097.110.6895

1. Xử phạt hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội:

Hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội có thể bị xử phạt vi phạm chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định định 15/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về trang thông tin điện tử như sau:

– Đối với hành vi cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin về tên của tổ chức quản lý trang thông tin điện tử, tên cơ quan chủ quản (nếu có), địa chỉ liên lạc, thư điện tử, số điện thoại liên hệ, tên người chịu trách nhiệm quản lý nội dung trên trang chủ của trang thông tin điện tử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

– Đối với một trong các hành vi sau đây, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng:

+ Chia sẻ, cung cấp đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung vi phạm quy định của pháp luật;

+ Tuyên truyền, dâm ô, đồi trụy, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

– Đối với một trong các hành vi sau đây phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng:

+ Xuyên tạc, vu khống, đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

+ Phát, đăng, sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia;

+ Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán dịch vụ, hàng hóa bị cấm;

+ Giả mạo trang thông tin điện tử của cá nhân, tổ chức khác;

+ Đăng, phát các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc không được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu.

Ngoài ra, chủ thể vi phạm còn áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Và áp dụng thêm biện pháp khắc phục hậu quả: i) Buộc gỡ bỏ đường dẫn đến thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn, thông tin vi phạm pháp luật; ii) Buộc thu hồi hoặc buộc hoàn trả tên miền. 

Như vậy, hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Thứ hai, vi phạm các quy định về trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội mà sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên mạng xã hội nhưng chưa được sự đồng ý họ thì bị phạt như sau:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 100 Nghị định 15/2020/NĐ-CP và Khoản 36 Điều 1 Nghị định 14/202022/NĐ-CP có quy định:

Đối với một trong các hành vi sau đây, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng:

– Sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên mạng xã hội khi chưa được sự đồng ý của cá nhân đó;

– Không cung cấp thông tin cá nhân hoặc thông tin riêng của người sử dụng có liên quan đến hoạt động tội phạm, khủng bố, vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Không thực hiện lưu trữ các thông tin về tài khoản, thời gian đăng nhập, đăng xuất, địa chỉ IP của người sử dụng và nhật ký xử lý thông tin được đăng tải theo quy định;

– Không có hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc lưu trữ, thanh tra, kiểm tra cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;…

Như vậy, theo quy định nêu trên phạt tiền từ từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng việc doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên mạng xã hội nhưng chưa được sự đồng ý của cá nhân đó. 

Thứ ba, Trên mạng xã hội hành vi chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác thì bị xử phạt như sau:

Căn cứ theo Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 37 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định, đối với vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội:

-Đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau đây, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng:

+ Cung cấp, chia sẻ  thông tin sai sự thật,  thông tin giả mạo, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

+ Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;

Xem thêm  Công nhiên là gì? Quy định tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?

+ Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, dâm ô, mê tín, dị đoan, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

+ Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, gây hoang mang trong Nhân dân, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;

+ Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm nghệ thuật, báo chí, văn học, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;

+ Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;

+ Tuyên truyền, quảng cáo, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;

+ Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.

– Đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

– Ngoài ra, người vi phạm còn có biện pháp khắc phục hậu quả như buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật. 

Như vậy, tổ chức có hành vi chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác trên mạng xã hội sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng. 

Trường hợp cá nhân có hành vi chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc như vừa nên trên thì sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đồng thời phải thực hiện gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm.

2. Xử lý hình sự hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội:

Hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội có thể xử phạt vi phạm hành chính, tuy nhiên trường hợp hành vi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội có yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể xử lý hình sự, cụ thể:

Thứ nhất, căn cứ theo quy định Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo:

– Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người có hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Đối với người chăm sóc,  dạy dỗ, nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc phương tiện điện tử, mạng viễn thông để phạm tội;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

– Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Làm cho nạn nhân tự sát.

– Ngoài ra, Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, Đối với tội làm nhục người khác thì mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Thứ hai, Bên cạnh đó tại Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội vu khống như sau:

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây:

+ Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

+ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền,…

Do đó, đối với trường hợp đăng tin sai sự thật của anh đã nêu thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đăng tin. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội vu khống, làm nhục người khác và bị xử phạt theo quy định pháp luật nêu trên.

Như vậy, đối với tội vu khống người khác thì mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hay nếu thuộc một trong các trường hợp theo quy định pháp luật thì phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 

3. Bồi thường khi đăng tin sai sự thật, giả mạo trên mạng xã hội:

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại khi bị xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên mạng xã hội sẽ căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự, theo đó nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể:

Căn cứ theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau: 

– Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. 

Pháp luật quy định các bên có thể thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, mức bồi thường, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, ngoại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Trường hợp không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình thì Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường. 

– Trường hợp mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc là cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

– Trường bị bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

– Trường hợp mà thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình thì bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường. 

Nguồn: https://luatduonggia.vn/xu-phat-hanh-vi-dang-tin-sai-su-that-gia-mao-tren-mang-xa-hoi/

097.110.6895
097.110.6895